Tài nguyên dạy học

Điểm tin giáo dục

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 1 thành viên
  • Đào Thúy Ngân
  • Thời gian là vàng

    Website liên kết

    LK Sở GD - ĐT Kiên Giang

    Nhập điểm Smas online

    Lời hay ý đẹp

    Danh Ngôn về Nhà Giáo

    Truyện cười 4 phương

    Chào mừng quý vị đến với website của Bùi Trường Long

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Tin tức >

    Cuộc chiến với những hủ tục

     

    Kỳ 2: Chửa hoang và sinh con trong hủ tục

    Nếu như với người Kinh ở dưới xuôi thời trước, việc người phụ nữ không chồng mà chửa phải chịu hình phạt rất nặng của dân làng, phải “cạo đầu bôi vôi, thả trôi sông”, thì ở miền núi Nam Trà My (Quảng Nam) sự khắc nghiệt của luật tục có phần còn hơn thế....

    Chuyện chửa hoang...
    Trên đường đi Nam Trà My, ló đầu ra khỏi đất Trà Giác của Bắc Trà My một đoạn, bên trái có chiếc cầu treo dằng dặc, bắc qua xã Trà Mai. Ở trong đấy có chuyện của Hồ Thị Diệu, một điển hình của tục phạt vạ khi chửa hoang. Đồng chí Phó chủ tịch xã Trà Mai buồn buồn kể lại. Với dân tộc Cor, những người có liên hệ huyết thống gần gũi không được lấy nhau. Từ một ông tổ sinh ra, nếu đời thứ nhất là anh em trai thì đến đời thứ tư (có nơi đến đời thứ năm) mới được quan hệ hôn nhân. Nhưng nếu là chị em gái, hay anh trai em gái hoặc em trai và chị gái thì đến đời thứ ba có thể lấy nhau. Ai không tuân tục lệ thì bị phạt, phải vào ở riêng trong rừng. Phong tục người Cor không ngăn cấm lấy vợ thứ nếu vợ chồng hiếm con và được người vợ cả đồng ý. Hôn nhân với chị em vợ được thừa nhận, với anh em chồng bị hạn chế ở mức người vợ góa chỉ được lấy em chồng. Anh chị em con cô, con cậu, con dì, con cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha thì cấm hôn nhân. Hai anh em trai có thể lấy hai chị em gái theo thứ tự anh lấy chị gái, em lấy em gái. Nếu nhà bên A đã có con làm dâu nhà bên B thì hai ba đời sau nhà bên B mới gả con gái cho nhà bên A. Vợ cư trú nhà chồng đã định hình, rất ít khi chồng ở rể nhà vợ.

    Cuộc sống của người phụ nữ vùng cao vẫn còn rất cực khổ


    Tục cưới hỏi của người Cor có nhiều đặc điểm riêng. Ban đầu nhà trai nhờ mai mối dẫn con trai mang rượu, trầu cau đến ra mắt nhà gái, nếu được ưng thuận, cùng định ngày ông mai và chú rể mang trầu rượu đến làm lễ “đẹp nhà gái”. Sau đó hai nhà chọn ngày cưới. Chuẩn bị lễ cưới hai nhà sửa sang đường sá sạch sẽ, báo cho già làng biết để thông báo cho dân làng. Ngày cưới, họ nhà gái kéo đến nhà ông mai chờ nhà trai đem trầu cau đến đón. Đêm hôm cưới, hai vợ chồng ngồi chung mâm, vợ chồng đặt lên đầu nhau ít cơm, gọi là bắt vía. Sau đó, cô dâu cùng nhà gái ra về. Hôm sau nhà trai sang nhà gái, tục lệ hôm trước lại tiếp diễn ở nhà gái. Ngày thứ ba nhà trai rước dâu về. Ngày thứ tư, nhà trai làm cho đôi tân hôn cái bếp mới và cho cô dâu làm lễ bắc nồi. Sau đó còn nhiều tục lệ khác nữa, hai người mới thực sự trở thành vợ chồng. Đấy là luật tục như thế, nhưng chuyện những người đàn bà con gái không cưới xin mà chửa thì bị phạt rất nặng.
    Tôi cứ lấn cấn mãi về chuyện của Diệu khi đặt chân vào làng. Chưa đến một giờ đồng hồ có thể chạy xe máy từ huyện đến đây, không phải là nơi xa xôi hiểm trở cho lắm, nhưng tại sao nơi này được xem là cái “rốn” hủ tục của Quảng Nam như thế? Ông Hải - Phó trưởng công an xã Trà Mai cười: “Dân tộc nào cũng phát triển thì bàn đến xã hội văn minh làm gì! Thôn 3 toàn người Xê Đăng, là nơi có nhiều hủ tục nhất xã. Chúng tôi tuyên truyền mãi, nhưng chẳng thấm vào đâu. Có người còn nói: “Bên này con suối là của người Xê Đăng, bên kia là của người Ca Dong, ngày xưa cắt máu ăn thề không lấn đất của nhau, bây giờ vẫn phải như vậy thôi”.
    Lời của ông Hải cứ ám vào tôi khi thơ thẩn trong làng. Có điện, tivi, nhiều nhà trên vách dán đầy hình diễn viên Hàn Quốc rồi ca sĩ Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, xe máy dựng ở góc nhà, nhưng hình như trong những căn nhà ấy, quanh cái làng với gần 100 hộ dân xúm xít như cái bát úp trên đồi này, có cái gì đó nặng nề ụp xuống.
    Quê Hồ Thị Diệu ở thôn 4, xã Trà Leng (Nam Trà My). Đầu năm 2006, Diệu xuống thôn 5, xã Trà Bui làm ăn, ở nhờ nhà người anh họ. Diệu buôn bán vặt xuống Trà Mai này, làm quen rồi có con với Hồ Văn Cấy, một thanh niên trong làng. Tới ngày Diệu sắp chuyển dạ, làng họp lại, hỏi con ai, sao không thấy cưới xin, Diệu khai con của Cấy. Cấy lắc đầu, quất ngựa truy phong. Thế là Diệu bị buộc tội chửa hoang, làng phạt phải nộp con heo lớn. Theo phong tục của người Mơ Nông, con gái chửa hoang thì không được đẻ ở trong làng, phải đẻ ở ngoài rừng, ngoài rẫy, cách làng ít nhất một con suối, sau một tháng mới được trở về. Đẻ ở trong làng thì phải cúng một con heo lớn và một con gà để trừ ma, trừ tà; nếu không, trong làng sẽ xảy ra đau ốm, bệnh tật và chết chóc, con gái trong làng sẽ bắt chước chửa hoang.

    Chưa hết cữ, sản phụ không được về làng, không được uống chung nước với cả làng


    Chiều hôm ấy trời mưa lớn kèm theo sấm sét ghê rợn. Bụng đau quằn quại, nghĩ mình sắp đẻ nên Diệu cố sức chạy vào rừng sâu, rồi ngất đi. Khi nghe tiếng trẻ “oe, oe”, Diệu mới tỉnh lại và biết mình đã sinh một bé gái. Hai mẹ con Diệu ướt đẫm, lấm lem bùn đất, vắt và muỗi rừng bâu cắn đầy người. Sợ làng “bắt vạ” nên Diệu không dám bồng con về làng. Chiều tối hôm ấy, có mấy người phụ nữ Mơ Nông đi làm rẫy về, nghe có tiếng trẻ con khóc nên tìm gặp mẹ con Diệu. Thấy tội nghiệp, họ góp áo quần và chặt tre nứa, dùng bạt cũ dựng chòi tạm cho mẹ con Diệu ở. May có một cụ già lén người làng cho ít gạo, muối. Một tuần sau khi đẻ, mẹ con Diệu thui thủi một mình ở bên kia con suối cách làng gần 1 giờ đi bộ, ai cho gì ăn nấy. Đứa trẻ không được chăm sóc tốt nên bị nhiễm trùng rốn; kẽ tay, kẽ chân, nách... nhiều chỗ lở, loét, bốc mùi hôi thối và cháu bị sốt cao.
    Tin lan xuống huyện. Ngay sau khi nhận tin, Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ - Trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình (BVBMTE) huyện đã tổ chức đoàn công tác đến Trà Mai phối hợp với địa phương “giải cứu” mẹ con người phụ nữ bất hạnh. Nhưng cuộc “giải cứu” không thành công. Cùng với việc vận động, giải thích cho dân làng hiểu ra việc làm sai trái, Ủy ban BVBMTE huyện và địa phương đã hỗ trợ lương thực, áo quần, chăn màn, thuốc chữa bệnh và chăm sóc mẹ con Diệu trong hơn nửa tháng còn lại của thời gian “bị hạn”. Mấy cán bộ có trách nhiệm tìm đến, nói lý nói tình với già làng một buổi, già làng gật đầu cho Diệu vào làng, nhưng sau đó lại nói: “Không được, phải ba ngày nữa mới đủ một tháng”. Sau đó, con của Diệu đã chết vì nhiễm trùng. “Diệu đâu rồi?”. Tôi hỏi. “Nó bỏ về Trà Leng rồi”. “Làng đuổi à?”. “Ừ, mà... không, nó tự về”. Mẩu đối thoại ngắn ngủi của chúng tôi với một thanh niên trong làng, anh này thẳng băng: “Không đuổi cũng phải bỏ đi thôi, mấy ông già nói suốt ngày, chịu chi nổi” - Anh thanh niên nói thế.
    Ông Hải chỉ tay vào lùm cây lớn ven suối, cho biết: “Chỗ đó, tháng trước là chỗ mẹ con Diệu ở”. Gặp già làng Hồ Văn Ban thôn 3, đi ngang qua, nghe chúng tôi hỏi chuyện, ông nói: “Nó làm chuyện bậy bạ, phải chịu thế thôi. Con nó chết rồi, cách đây hai tháng”. Giọng ông có vẻ đanh thép khi nhắc đến chuyện Diệu. Có lẽ không chỉ với ông, mà với người dân cả làng, thì việc làm của Diệu đã khiến người dân của cả làng mất mặt. Chính vì thế phải bắt phạt Diệu thật nặng để làm gương cho người khác.

    Con gái của già làng Hồ Văn Đoàn chưa hết cữ, phải ở riêng và không được tiếp xúc với người lạ


    Và sinh con trong hủ tục...
    Muốn vào làng phải băng qua một con suối lớn. Mùa khô mà nước duềnh doàng rất khó đi. Vào được đến làng, chúng tôi hỏi chuyện sinh nở của người phụ nữ trong làng, một phụ nữ đứng tuổi nghiêm mặt nói: “Đàn bà đến tháng không được sang nhà người khác, không được bước lên nhà trên. Con chưa rụng rốn, vợ chồng chưa mổ heo cúng đặt tên con thì dứt khoát không được uống nước chung với làng bởi con ma nó chưa ra khỏi đứa bé, uống chung, cho con bú, nó nhập vào chết cả làng”. Người Cor muốn có con trai hơn con gái, người có thai không được phép đi qua người già, người lớn tuổi, không đứng bóng người lớn, ít tiếp xúc đàn ông. Khi sinh đẻ sản phụ có bà mụ giúp. Đẻ xong, sản phụ phải uống nước có nhiều muối, củ mơ gang, các loại rễ cây, dây rừng đắng, uống nước nóng, đốt đá nóng quấn vải để lên bụng cho bụng nhỏ lại. Nhau được bỏ vào mo cau buộc kín treo lên cao. Bảy ngày sau, mẹ cho con đặt chân xuống đất, rồi cõng lên lưng, bắt đầu làm việc hàng ngày. Sau đó làm lễ đặt tên cho con, con đầu gọi là ây - ka (con trai), mư - ây (con gái), con thứ gọi là mơ - oh (con trai), mơ - ơh (con gái). Đặt tên không trùng nhau, lúc nhỏ thường gọi là chệch tên.
    Đó là những hủ tục còn sót lại ở làng Ông Sa, thôn 4, Trà Mai khiến những con người nơi đây mài mòn trong sự nghèo đói, lạc hậu... Ông Hồ Văn Đoàn, được giới thiệu như người thông thái nhất làng, cười lộ cả hàm răng ăn trầu đỏ bầm: “Không bỏ tục lệ được đâu, xưa đến nay như thế rồi. Mình mà bỏ là mình có tội với làng, với tổ tiên đấy”. Hồ Thị Hoa là con gái ông đang lúi húi nấu cơm. Hoa mới sinh được mấy tháng. Tôi bảo ông Đoàn gọi cô lên ngồi nói chuyện, nhưng ông Đoàn lắc đầu nguầy nguậy: “Không được đâu! Nó đang ở cữ mà. Nó đang đến tháng. Đàn bà đến ngày đó là không được sang nhà người khác, không được bước lên nhà trên, không được nói chuyện với người lạ!”. Nhiều cái không được lắm. Tôi bèn lần mò xuống bếp. Khi đưa máy ảnh lên Hoa lấy tay che mặt, nhất quyết không cho chụp ảnh. Tôi quay lui, nghe sau lưng mình như có tiếng thở dài, không biết của ai.
    Cạnh nhà Hoa là nhà chị Thu. Sinh con được gần 20 ngày, nhưng chị Thu không được uống nước sạch mà phải mệt mỏi băng sang núi bên kia, múc nước uống ở cái khe khác. “Già làng không cho anh à. Ai cũng vậy thôi, không riêng gì em đâu. Vì họ sợ làm bẩn nước của làng đấy thôi!”. Thì ra luật ở đây là con chưa rụng rốn, vợ chồng chưa mổ heo cúng đặt tên con, thì dứt khoát không được uống nước chung với làng, bởi vì cái lý luận rằng con ma nó chưa ra khỏi đứa bé, uống chung, cho con bú, nó nhập vào chết cả làng à? Ông già làng Hồ Văn Son trợn mắt, ngoảnh mặt nói: “Đấy là tục lệ của làng có bao đời nay rồi. Vì ai cũng thế nên phải chấp nhận thôi! Nếu không ra rừng mà làm nhà sống tạm vậy!”.
    Nói về chuyện nước, một cán bộ xã vừa cười vừa mếu cho biết, cách đây ba năm, khi dự án nước sạch của quốc gia được kéo về từ ngọn đồi sau lưng làng. Nước chảy đến nơi, cán bộ dự án mới chưng hửng khi cả làng không ai thèm uống. Hỏi ra mới được người dân cho biết: “Nước đó ở rừng ma đấy, uống sao được, ông bà quở chết. Không dám uống đâu”.
    Tôi quay về thị trấn, chỉ cần vượt qua một quãng đồi và một cây cầu treo qua sông Tranh, thế mà chỗ này rộn ràng huyên náo, còn chỗ kia vương vất khói lam chiều như một nét vẽ buồn tênh với những người phận người phụ nữ đầy khó nhọc. Tôi vẫn quẩn quanh khó hiểu về những hủ tục ở cái làng này, vì nó có xa trung tâm huyện là bao? Hình như bất chấp chuyện khoảng cách không gian và thời gian, những hủ tục lạ kỳ này tồn tại dai dẳng, truyền đời, cuốn xoáy. Đời sống đi lên, hủ tục vẫn còn, để người phụ nữ cứ phải sống trong sự đè nén của luật tục mãi.

    Hữu Cường
    (Xem từ Thế Giới Mới số 51-2012 ra ngày 31/12/2012)


    Nhắn tin cho tác giả
    Bùi Trường Long @ 10:07 11/01/2013
    Số lượt xem: 666
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Sách Danh Ngôn

    ..:|:..Thông tin được xem và tải nhiều nhất..:|:..